PodcastsTạp chí Việt Nam

Tạp chí Việt Nam

Tạp chí Việt Nam
Latest episode

63 episodes

  • Thương mại : Tách Mỹ hay rời Trung Quốc ? Việt Nam tìm cách cân bằng đôi bên

    02/03/2026
    Năm 2025, Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, đạt kỷ lục với 151,85 tỉ đô la (chiếm 32% tổng trị giá xuất khẩu của Việt Nam). Trung Quốc tiếp tục là thị trường cung cấp hàng hóa lớn nhất cho Việt Nam, đạt kim ngạch 183 tỉ đô la (chiếm gần 41% trong tổng trị giá nhập khẩu của Việt Nam) (1). Trị giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ tỉ lệ thuận với trị giá nhập khẩu từ Trung Quốc. 
    Trước sức ép của Washington, Hà Nội phải thắt chặt kiểm soát để ngăn hàng Trung Quốc đội lốt Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ. Theo tổng kết của AP về thuế đối ứng của tổng thống Donald Trump năm 2025, Trung Quốc, từng là nguồn nhập khẩu lớn nhất của Mỹ, hiện giờ đứng thứ ba, sau Canada và Mêhicô. Tổng giá trị hàng hóa từ Trung Quốc nhập khẩu vào Mỹ giảm gần 25% trong ba quý đầu năm 2025.
    Không thể làm mất lòng Mỹ - thị trường chiếm đến 30% GDP của Việt Nam
    Ngay đầu nhiệm kỳ 2, tổng thống Trump siết chặt đầu tư và thương mại từ Trung Quốc, nhắm đến cả những nước bị coi là “sân sau” của Bắc Kinh, trong đó có Việt Nam. Kinh tế gia cấp cao Nguyễn Trinh của Natixis nhận định trong phóng sự “Vì sao Việt Nam phải ký hiệp định thương mại với Trump?” của Bloomberg ngày 11/07 :
    “Trong nhiệm kỳ 1.0 của Trump, Việt Nam nổi lên là bên hưởng lợi lớn nhất từ ​​căng thẳng Mỹ - Trung. Việt Nam trở thành điểm đến thu hút các nhà đầu tư muốn tiếp cận thị trường Mỹ, nơi chênh lệch thuế quan giữa Trung Quốc và Việt Nam ngày càng lớn hơn (...) Chính sách thời Trump 2.0 rất khác ở chỗ thay vì chỉ nhắm vào Trung Quốc, điều mà Việt Nam đã được hưởng lợi, giờ đây chúng ta lại thấy thuế quan áp dụng trực tiếp đối với cả Việt Nam”.
    Đọc thêmBị Mỹ đánh thuế 46% : Việt Nam trả giá vì làm “sân sau” cho Trung Quốc ?
    Chính phủ Việt Nam bị sốc vì không nghĩ đến mức thuế lên tới 46% được tổng thống Trump công bố trong “Ngày giải phóng” 02/04/2025 cho dù đã dự đoán một số mức thuế theo xu hướng chung. Mức thuế đối ứng 46% sẽ khiến Việt Nam mất tính cạnh tranh, tác động đến xuất khẩu chiếm tới 86% GDP, trong khi thị trường Mỹ chiếm 30% GDP của Việt Nam, “giúp người dân thoát nghèo”, theo nhận định của John Boudeau, phóng viên của Bloomberg tại thành phố Hồ Chí Minh. Trang Fortune Herald nhận định ngày 30/12 rằng “thương mại với Hoa Kỳ đã đóng vai trò như một bậc thang trên con đường hiện đại hóa kinh tế của Việt Nam”.
    Việt Nam là một trong những chính phủ đầu tiên liên hệ với Nhà Trắng để đàm phán. Trong buổi họp báo ngày 10/04, người phát ngôn bộ Ngoại Giao Phạm Thu Hằng phát biểu : “Trên tinh thần đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước, Việt Nam sẽ cùng Mỹ tiến hành đàm phán về một thỏa thuận thương mại đối ứng trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau nhằm đạt được giải pháp thỏa đáng hướng đến thương mại công bằng, bền vững và đáp ứng được lợi ích của người dân và doanh nghiệp của hai nước”.
    Và Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở châu Á đạt được thỏa thuận với chính quyền Mỹ, với mức 20%, cùng với nhiều lời hứa giảm thâm hụt thương mại bằng cách mua những sản phẩm có giá trị lớn của Mỹ (máy bay, khí tự nhiên hóa lỏng LNG, nông phẩm…).
    Việt Nam không thể giảm phụ thuộc vào hàng hóa Trung Quốc
    Tuy nhiên, một trong những điểm bất đồng lớn nhất trong các cuộc đàm phán là Mỹ yêu cầu Việt Nam siết chặt hơn nữa các biện pháp chống gian lận thương mại và ngăn chặn việc hàng hóa Trung Quốc trung chuyển và đóng gói lại ở Việt Nam để né tránh thuế quan cao hơn.
    Theo tính toán của Chad Bow, Viện Kinh tế Quốc tế Peterson, thuế quan Mỹ áp dụng đối với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc hiện lên tới 47,5%. Còn hàng hóa Việt Nam bị Mỹ đánh thuế nhập khẩu 20% nhưng phải còn có một mức thuế khác lên tới 40% được áp dụng đối với hàng trung chuyển, chủ yếu là Trung Quốc. Nhà báo John Boudeau của Bloomberg nhận định :
    Việc này vô cùng khó khăn đối với Việt Nam bởi vì rất nhiều nhà máy ở đây không chỉ dựa vào linh kiện, nguyên vật liệu, mà còn dựa vào máy móc đến từ các nước như Trung Quốc.
    “Việt Nam trở thành nơi trung chuyển hàng hóa Trung Quốc trước khi hướng sang Mỹ”. Điều này được trang Nikkei Asia phản ánh trong phóng sự điều tra đăng ngày 23/12/2025 về cửa khẩu Móng Cái, ngày càng nhộn nhịp, sầm uất với nhiều công trình hạ tầng được xây dựng từ năm 2017, khi chiến tranh thương mại Mỹ-Trung bắt đầu. Hoạt động này gia tăng mạnh hơn trong năm 2025 : “Khối lượng container thông qua Móng Cái tăng vọt. Dữ liệu do ban quản lý cầu Bắc Luân 2 tổng hợp cho thấy, tính đến ngày 06/07/2025, 840.000 tấn hàng hóa đã qua biên giới, tăng 43% so với cùng kỳ năm 2024. (…) Giá trị xuất khẩu của Trung Quốc sang Việt Nam đã tăng mạnh trong bối cảnh thuế quan cao của Mỹ, cũng như xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ. Trong khi đó, xuất khẩu trực tiếp từ Trung Quốc sang Mỹ lại trì trệ”.
    Thống kê mới nhất cho năm 2025 được Cục Hải quan công bố ngày 25/12 có thể cho thấy một phần hiện tượng này : “Nhóm hàng công nghệ cao có trị giá lớn nhất, đóng góp nhiều nhất vào tăng xuất nhập khẩu. Cụ thể đối với xuất khẩu ba nhóm hàng có trị giá cao nhất là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện ; điện thoại các loại và linh kiện ; máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng, tổng trị giá là 222 tỉ đô la, chiếm 47% trị giá xuất khẩu cả nước. Đối với nhập khẩu, ba nhóm hàng trên đạt 221 tỉ đô la, chiếm 49% trị giá nhập khẩu của cả nước, tăng 54,3 tỉ đô la so với năm 2024”.
    Đọc thêmĐại chiến thuế quan Mỹ-Trung, « cây tre » Việt Nam biết ngả về đâu
    Trong nghiên cứu của ngân hàng ING đăng ngày 03/07/2025, tác giả Deepali Bhargava, trưởng bộ phận nghiên cứu khu vực châu Á - Thái Bình Dương, nhận định : “Đây là một sự thay đổi đáng kể so với năm 2017 (trước khi xảy ra chiến tranh thương mại Mỹ-Trung), khi xuất khẩu máy móc và thiết bị điện tử của Trung Quốc sang Việt Nam đạt 26,9 tỉ đô la và chiếm khoảng 16,6% tổng kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc sang Việt Nam, trong khi xuất khẩu máy móc và thiết bị điện tử của Việt Nam sang thị trường Mỹ chỉ đạt 5,9 tỉ đô la và chiếm khoảng 5,3% tổng kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ”.
    Sự bùng nổ này, có thể một phần là do nhu cầu nội địa gia tăng ở Việt Nam, nhưng cho thấy rõ hoạt động trung chuyển đáng kể, theo bà Deepali Bhargava : 
    Nhiều công ty sử dụng Việt Nam làm điểm lắp ráp linh kiện nhập khẩu từ Trung Quốc hoặc gia tăng đủ giá trị cho sản phẩm để thay đổi xuất xứ một cách hợp pháp. Tuy nhiên, một số công ty chỉ dán nhãn “Sản xuất tại Việt Nam” lên hàng sản xuất tại Trung Quốc, và đây là hành vi bất hợp pháp nhưng khó truy vết. (…) Việc phân biệt giữa xuất khẩu giá trị gia tăng và xuất khẩu trung chuyển sẽ là yếu tố then chốt trong việc đánh giá tác động tổng thể đến xuất khẩu của Việt Nam, mặc dù chưa rõ trung chuyển có nghĩa là như thế nào.
    Vẫn theo nghiên cứu của ING, mặc dù hàng hóa trung chuyển không trực tiếp đóng góp vào GDP của Việt Nam nhưng tạo ra hoạt động kinh tế và doanh thu thông qua các dịch vụ như kho bãi, xử lý và vận chuyển, góp phần vào lĩnh vực dịch vụ.
    “Ngoại giao cây tre” trong thương mại với Mỹ và Trung Quốc
    Việc giảm lưu lượng trung chuyển có thể gây bất lợi cho Việt Nam trong ngắn hạn. Tuy nhiên, mức độ chênh lệch thuế quan của Mỹ, 20% đối với hàng nhập khẩu của Việt Nam và 40% đối với hàng trung chuyển, buộc Hà Nội phải tăng cường các biện pháp để bảo vệ lợi ích từ xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng mà Việt Nam đang được hưởng.
    Mức thuế 40% đối với hàng trung chuyển còn cho thấy những hạn chế của ngành công nghiệp Việt Nam, theo nghiên cứu của ING : “Mặc dù rất khó để đánh giá được trực tiếp mức độ trung chuyển, nhưng sự yếu kém trong sản xuất của ngành công nghiệp chế tạo trong nước, bất chấp tăng trưởng xuất khẩu mạnh mẽ, cho thấy giá trị gia tăng nội địa còn hạn chế. Để đối phó với tình trạng này, bộ Thương Mại Việt Nam đã ban hành chỉ thị trấn áp việc vận chuyển quá cảnh hàng hóa bất hợp pháp sang Hoa Kỳ và các đối tác thương mại khác bằng cách tập trung hóa việc cấp giấy chứng nhận xuất xứ điện tử”.
    Ở quy mô rộng hơn, thủ tướng Phạm Minh Chính cho rằng thỏa thuận thuế quan với Mỹ là một cách để “nâng cao chuỗi giá trị”, vừa là yêu cầu vừa là cơ hội. Mức thuế trung chuyển 40% buộc Việt Nam đẩy nhanh tốc độ chuỗi cung ứng trong nước, cố giảm phụ thuộc vào linh kiện Trung Quốc bằng cách xây dựng lâu dài ngành công nghiệp chất lượng cao, phát triển công nghệ số. Đây cũng là những mục tiêu trong kế hoạch để Việt Nam trở thành nước có thu nhập cao vào năm 2045.
    Đọc thêmChủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình công du Việt Nam kêu gọi tăng cường quan hệ thương mại song phương
    Ngoài ra, Việt Nam tiếp tục mở rộng mạng lưới đối tác, thị trường xuất khẩu để giảm thiểu sự phụ thuộc quá mức do chính sách kinh tế theo chủ nghĩa dân tộc. Cách tiếp cận đa cực được thể hiện trong các thỏa thuận với Liên Hiệp Châu Âu, Ấn Độ, Nga, thậm chí cả các nước vùng Vịnh, châu Phi.
    Tuy nhiên, trước mắt, Trung Quốc sẽ tiếp tục là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, theo giải thích của bà Nguyễn Trinh, ngân hàng Natixis : 
    Điều đó giống như yêu cầu Mêhicô ngừng quan hệ thương mại với Hoa Kỳ. Mặc dù Mỹ là thị trường lớn nhất của Việt Nam, nhưng Trung Quốc lại là yếu tố địa-chính trị quan trọng nhất. Trung Quốc nằm ngay sát Việt Nam. Hai nước có mối quan hệ rất phức tạp mà cả hai phải hết sức thận trọng và đây là yếu tố hàng đầu trong quan hệ đối ngoại song phương.
    Giao thương giữa hai nước sẽ tiếp tục gia tăng với tuyến đường sắt nối Vân Nam (Trung Quốc) với Lào Cai đi qua Hà Nội và đến cảng Hải Phòng. Việt Nam sẽ tiếp tục vận dụng “ngoại giao cây tre” để điều chỉnh quan hệ thương mại với Mỹ và Trung Quốc. Năm 2025, tổng trị giá xuất nhập khẩu của hai thị trường Trung Quốc và Mỹ là 422 tỉ đô la, chiếm tỷ trọng 46% tổng trị giá xuất nhập khẩu của Việt Nam.
    (1) Theo thông tin Cục Hải Quan (bộ Tài Chính), được báo Thanh Niên trích dẫn ngày 25/12/2025, “Xuất khẩu sang Mỹ đạt kỷ lục gần 152 tỉ USD”.
  • Ông Tô Lâm thâu tóm quyền lực và tác động đối với quan hệ Việt-Mỹ

    23/02/2026
    Tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam Tô Lâm đã đến Washington trong tuần qua để dự cuộc họp khai mạc “Hội đồng Hòa bình” do Donald Trump thành lập. Nhân dịp này, ông Tô Lâm đã hội kiến tổng thống Mỹ tại Nhà Trắng ngày 20/02/2026. Chuyến đi Hoa Kỳ của ông Tô Lâm được báo chí quốc tế chú ý vì đây là chuyến công du đầu tiên đến một cường quốc kể từ khi ông được bầu làm tổng bí thư thêm một nhiệm kỳ và kể từ nay thâu tóm mọi quyền lực trong tay.
    Theo thông báo của chính quyền Hà Nội, trong cuộc gặp với ông Tô Lâm, tổng thống Trump cho biết sẽ xóa tên Việt Nam khỏi "danh sách kiểm soát xuất khẩu chiến lược (D1 - D3)", tức là danh sách các quốc gia bị hạn chế tiếp cận công nghệ tiên tiến của Mỹ. Cuộc gặp tại Nhà Trắng diễn ra sau khi các hãng hàng không Việt Nam công bố các hợp đồng trị giá tổng cộng 37 tỷ đô la mua 90 máy bay Boeing. 
    Trang mạng The Diplomat ngày 23/02/2026, nhận định, thông báo nói trên của tổng thống Trump "là dấu hiệu cho thấy sự tin tưởng chiến lược ngày càng tăng giữa hai quốc gia. Tuy nhiên, xét đến vị trí mang tính cơ cấu của Việt Nam trong chuỗi cung ứng liên kết Mỹ và Trung Quốc, thương mại và thuế quan có khả năng sẽ là điểm gây bất đồng chính giữa Hà Nội và Washington trong thời gian còn lại của nhiệm kỳ thứ hai của ông Trump."
    Đàm phán thương mại gay go
    Quan hệ Việt-Mỹ hiện nay đang phần nào bị chựng lại do bế tắc trong đàm phán thương mại song phương. Trên trang mạng The Diplomat ngày 13/02, biên tập viên về Đông Nam Á Sebastian Strangio nhắc lại:
    “ Washington áp thuế 20% đối với hàng hóa Việt Nam từ tháng 8 năm ngoái. Hai nước đã tổ chức vòng đàm phán thứ sáu vào đầu tháng này, nhưng vẫn chưa đạt được thỏa thuận cuối cùng. Theo các nguồn tin được hãng tin Bloomberg trích dẫn, các cuộc đàm phán thương mại Mỹ-Việt Nam đang bế tắc về định nghĩa hàng hóa “trung chuyển”. Chính quyền Trump cho biết những hàng hóa “trung chuyển” sẽ bị đánh thuế 40%, nhưng vẫn chưa nói cụ thể xác cách thức xác định và xử lý loại hàng hóa đó. 
    Các cố vấn thương mại của ông Trump từ lâu vẫn cho rằng một lượng lớn hàng hóa Trung Quốc được vận chuyển qua Việt Nam, hoặc được sản xuất tại đó với rất ít nguyên liệu đầu vào, để tránh thuế quan của Mỹ đối với Trung Quốc. Họ cho đây là lý do chính dẫn đến thặng dư mậu dịch của Việt Nam đối với Mỹ, mức thặng dư lớn thứ ba thế giới sau Trung Quốc và Mêhicô.” 
    Các cuộc đàm phán thương mại có thể đã trở nên phức tạp hơn do mức thuế 20% đã không làm giảm đáng kể thặng dư thương mại của Việt Nam với Mỹ. Theo số liệu của chính phủ Việt Nam, xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ đã tăng từ 119,6 tỷ đôla năm 2024 lên 153,2 tỷ đôla năm ngoái, tăng 28%, đẩy thặng dư thương mại lên mức kỷ lục gần 134 tỷ đôla vào năm 2025, cao hơn đáng kể so với năm 2024. (1)
    Sebastian Strangio ghi nhận: “Chưa biết có dẫn đến bước đột phá nào trong thương mại với Mỹ hay không, chuyến công du lần này của ông Tô Lâm dường như phá vỡ một tiền lệ, đó là các lãnh đạo mới được bổ nhiệm của đảng Cộng Sản Việt Nam thường đến thăm Trung Quốc trước bất kỳ cường quốc lớn nào khác. Ngoài chuyến đi ngắn tới Cam Bốt và Lào vào ngày 5-6 tháng 2, chuyến thăm ông Tô Lâm tại Mỹ sẽ là chuyến thăm đầu tiên tới một cường quốc lớn kể từ khi Đại hội Đảng lần thứ 14 bầu ông làm tổng bí thư thêm nhiệm kỳ 5 năm. 
    Thực tế này đã khiến một số nhà quan sát cho rằng nó có thể phản ánh một sự thay đổi tiềm tàng trong định hướng chiến lược của Việt Nam. Tuy nhiên, xét đến tính nhất quán tương đối của chính sách đối ngoại Việt Nam trong hai thập kỷ qua, ta nên thận trọng, không diễn giải quá mức về thời điểm chuyến thăm của ông Tô Lâm sang Mỹ. Ngày diễn ra Hội nghị Thượng đỉnh Hội đồng Hòa bình là do Washington ấn định, chứ không phải do Hà Nội, và chuyến thăm của ông Tô Lâm cũng có thể xuất phát từ nhu cầu cấp thiết của Việt Nam đạt được một thỏa thuận thương mại với Hoa Kỳ, yếu tố cần thiết nếu đảng Cộng Sản Việt Nam (CPV) muốn đạt được các mục tiêu kinh tế đầy tham vọng trong những năm tới. 
    Ngoài ra, ông Tô Lâm hầu như không cho thấy dấu hiệu nào muốn xa rời Trung Quốc mà thật ra đang làm ngược lại, như nhận xét của Sheena Chestnut Greitens của Đại học Texas, Austin trên mạng X: “Tô Lâm là động lực thúc đẩy tăng cường hợp tác về an ninh nội bộ giữa Việt Nam với Trung Quốc.” 
    Thực tế là, theo Sebastian Strangio, “do tính khí thất thường của ông Trump và chính quyền của ông, cùng với tình trạng không chắc chắn của các cuộc đàm phán thương mại, quan hệ với Hoa Kỳ hiện cần được “chăm sóc” về mặt ngoại giao nhiều hơn so với mối quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, vốn vẫn ổn định nhờ vào các chuyến thăm song phương luân phiên hàng năm của các quan chức hai bên. Rất có thể ông Tô Lâm sẽ sớm có chuyến thăm đáp lễ tới Bắc Kinh. Lần cuối cùng ông đi thăm Trung Quốc là vào tháng 8/2024, chuyến công du nước ngoài đầu tiên sau khi nhậm chức tổng Bí thư. Ông Tập Cận Bình đã đáp lễ với chuyến thăm Việt Nam hồi tháng 4 năm ngoái.”
    “Ngoại giao cây tre giữa cơn bão Trump”
    Trên trang mạng Financial Review của Úc ngày 16/02, ông James Curran, giáo sư Lịch sử Hiện đại và nghiên cứu viên cao cấp tại Trung tâm Nghiên cứu Hoa Kỳ thuộc Đại học Sydney, ghi nhận về đối ngoại, chính sách “ngoại giao cây tre” của Việt Nam “vẫn còn khá yếu ớt giữa cơn bão Trump”. 
    Giáo sư Curran trích nhận xét của một nhà phân tích: Thuế quan “ngày giải phóng” là một “cú đánh mạnh”, gợi lại những ký ức đau buồn về việc Washington lôi kéo Hà Nội gia nhập TPP ( Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương ), rồi Chú Sam lại rút lui vào phút cuối. Một số người ở Hà Nội đang rất tức giận, nói rằng “người Mỹ hành xử không phải như một nhà tư bản mà là đế quốc”.
    Hà Nội hiện đang nhắm đến thỏa thuận tương tự thỏa thuận mà thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi đã nhận được, tức là mức thuế 18%. Nhưng một nguồn tin từ Việt Nam lo ngại không biết chính quyền Washington có nhận thức được hậu quả hay không. Nhân vật này lập luận rằng tâm lý chống Trung Quốc ở Việt Nam đôi khi bị thổi phồng quá mức và nói thêm rằng “mọi người đang nhìn về phía Trung Quốc và tự hỏi liệu đó có phải là lựa chọn tốt hơn hay không.” 
    Theo giáo sư Curran, nói chuyện riêng, các quan chức Mỹ nhấn mạnh thông điệp của họ gửi tới Hà Nội rất thẳng thắn: “Hãy cẩn thận khi chơi trò thân mật với Bắc Kinh quá mức”. Họ nghĩ rằng Hà Nội sẽ nhượng bộ Trung Quốc một số điều, chẳng hạn như qua việc hợp tác trong dự án đường sắt cao tốc, nhưng về các khoáng sản quan trọng, chất bán dẫn và các lĩnh vực khác có tầm quan trọng quốc gia cao, "Hà Nội muốn chúng ta." 
    Chính sách đối ngoại thực dụng
    Trong bài viết đăng trên trang mạng Geopolitical Monitor ngày 28/01/2026, giáo sư James Borton, Viện Chính sách đối ngoại SAIS - Đại học Johns Hopkins (Mỹ), trước hết nhận định: 
    “Ông Tô Lâm đã làm được điều mà ít nhà lãnh đạo Việt Nam nào làm được từ nhiều thập niên qua: thâu tóm vững chắc quyền lực của Đảng và Nhà nước vào tay mình. Tái đắc cử tổng bí thư và chuẩn bị đảm nhiệm chức chủ tịch nước, ông Tô Lâm hiện đang đứng đầu cơ cấu lãnh đạo tập trung nhất của Việt Nam kể từ thời hậu chiến, một sự tập trung có thể giúp điều chỉnh lại sự cân bằng mong manh giữa Hà Nội và Washington. Những tác động đối với quan hệ Mỹ - Việt Nam là rất sâu sắc.” 
    Theo ông Borton, Washington, đặc biệt là dưới chính quyền Trump nhiệm kỳ thứ hai, vốn công khai ủng hộ việc hợp tác với các nhà lãnh đạo quyền lực, dĩ nhiên là rất hoan nghênh thực tế mới này. Sự tập trung quyền lực của ông Tô Lâm không chỉ là về chính trị, mà còn gắn liền với một kế hoạch kinh tế đầy tham vọng. Hà Nội đã đặt ra mục tiêu tăng trưởng hàng năm từ 10% trở lên trong giai đoạn 2026-2030, bằng cách đẩy mạnh sản xuất công nghệ cao, chuyển đổi số và mở rộng khu vực tư nhân. Để đạt được mục tiêu này, Việt Nam phải đảm bảo nguồn vốn, công nghệ và tiếp cận thị trường từ nước ngoài, đặc biệt là từ Hoa Kỳ. 
    Giáo sư Borton viết tiếp: “Yêu cầu cấp thiết về kinh tế đó giải thích cho chính sách đối ngoại thực dụng của ông Tô Lâm. Bất chấp những tranh chấp thương mại định kỳ và những lo ngại dai dẳng của Hoa Kỳ về thặng dư mậu dịch, quản lý tiền tệ và rào cản tiếp cận thị trường của Việt Nam, ông Tô Lâm đã theo đuổi một chính sách dựa trên sự linh hoạt hơn là dựa trên ý thức hệ. Việc ông sốt sắng nhận lời mời của Hoa Kỳ tham gia “Hội đồng Hòa bình”, một hành động được coi là nhanh bất thường theo tiêu chuẩn ngoại giao thận trọng cố hữu của Hà Nội, cho thấy ông sẵn sàng hợp tác với Washington, kể cả dưới thời tổng thống Donald Trump. Thông điệp rất rõ ràng: Để hiện đại hóa kinh tế Việt Nam cần phải có một mối quan hệ ổn định với Hoa Kỳ.”
    Tuy nhiên, theo giáo sư James Borton, việc ông Tô Lâm củng cố quyền lực cũng khiến tình hình trở nên phức tạp. Việt Nam từ lâu vẫn cố giữ thế cân bằng thận trọng giữa Washington và Bắc Kinh. Một cấu trúc lãnh đạo tập trung hơn có thể làm cho chiến lược cân bằng đó được sắc bén, nhưng cũng có thể thu hẹp không gian cho các cuộc tranh luận nội bộ mà trước đây vẫn giúp điều tiết các biến động về chính sách. 
    Theo giáo sư Borton, ông Tô Lâm thừa hiểu Trung Quốc vẫn là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam và là thế lực áp đảo về địa lý và chiến lược. Còn Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam và là nguồn cung cấp công nghệ tiên tiến và đầu tư không thể thiếu. Sự thịnh vượng của Việt Nam phụ thuộc vào cả hai mối quan hệ này. 
    Ông Borton viết tiếp: “Với quyền lực tập trung ở cấp cao nhất, ông Tô Lâm có thể hành động quyết đoán hơn trong các cải cách mà các ban lãnh đạo dựa trên sự đồng thuận trước đây vẫn thi hành một cách thận trọng. Các cải cách có thể bao gồm việc điều chỉnh quy định sâu rộng hơn để thu hút đầu tư của Mỹ trong ngành bán dẫn và trí tuệ nhân tạo và mở rộng hợp tác năng lượng - bao gồm các hợp đồng khí đốt tự nhiên hóa lỏng dài hạn của Mỹ, giúp thu hẹp thâm hụt thương mại song phương. Những bước đi như vậy sẽ phù hợp với các ưu tiên kinh tế và chiến lược của Washington.”
    Nhưng giáo sư Borton lưu ý: “Học thuyết chính sách đối ngoại của Việt Nam vẫn dựa trên sự độc lập, tự lực và chủ nghĩa đa phương. Hà Nội sẽ cố không để mình trở thành đồng minh chính thức của Mỹ hay trở thành một quốc gia đứng tuyến đầu trong cuộc cạnh tranh giữa các cường quốc. Quyền lực của Tô Lâm có thể cho phép ông đàm phán một cách tự tin với Washington, nhưng sẽ không khiến ông lệ thuộc vào Mỹ.”
    Đối với Hoa Kỳ, theo giáo sư Borton, “thách thức sẽ là làm thế nào hợp tác với Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Tô Lâm để hỗ trợ cải cách kinh tế mà không gây ra phản ứng mang tính dân tộc chủ nghĩa. Việc gây áp lực mạnh mẽ lên Hà Nội về mất cân bằng thương mại hoặc vấn đề tiền tệ có thể làm phức tạp chương trình cải cách của Tô Lâm và củng cố những tiếng nói bảo thủ hơn trong chế độ. Ngược lại, sự hợp tác mang tính xây dựng, đặc biệt là về chuyển giao công nghệ, năng lượng sạch, hợp tác an ninh hàng hải và giáo dục, có thể củng cố con đường đến tăng trưởng giá trị cao hơn và hội nhập toàn cầu sâu rộng hơn của Việt Nam.”
    ___
    (1)Theo AFP ngày 23/02/2026, Cơ quan Hải quan và Biên phòng Mỹ (CBP) thông báo ngừng thu các khoản thuế quan được áp đặt theo Đạo luật Quyền lực Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế (IEEPA) từ 0h01 sáng 24/2 theo giờ miền Đông nước Mỹ (12h01 giờ VN), tức hơn ba ngày sau khi Tòa án Tối cao Mỹ tuyên bố phần lớn các mức "thuế đối ứng" mà chính quyền Trump ban hành ngày 02/04/32025 là bất hợp pháp.
  • Pháp, Việt Nam tăng cường quan hệ đối tác pháp luật trong thời đại công nghệ số

    09/02/2026
    Pháp luật là một trong những lĩnh vực hợp tác lâu năm nhất giữa Pháp và Việt Nam. Hợp tác trong lĩnh vực này bắt đầu từ những năm 1990 và dựa trên sự tương đồng giữa hệ thống pháp luật của hai nước, cũng như sự quan tâm của Việt Nam đến kinh nghiệm của Pháp.
    Mục tiêu chủ yếu của quan hệ đối tác này là hỗ trợ các cải cách hướng tới xây dựng một nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Sự hợp tác này được tổ chức thông qua các hội thảo chia sẻ chuyên môn và các hội nghị với các bộ, ngành của Việt Nam, các chuyên gia pháp luật và các học giả.
    Để đánh dấu 30 năm hợp tác trong lĩnh vực pháp luật, trong tháng 11 vừa qua, Pháp và Việt Nam đã tổ chức Tuần lễ Pháp luật và Tư pháp. Nhân dịp này, một phái đoàn của bộ Tư Pháp của Pháp đã đến thăm Việt Nam, dẫn đầu là bà Valérie Delnaud, tổng vụ trưởng Vụ Các vấn đề dân sự và ấn tín. Theo thông báo của đại sứ quán Pháp, phái đoàn Pháp đã trao đổi với lãnh đạo Vụ Hợp tác quốc tế Tòa án Nhân dân Tối cao “về những vấn đề pháp lý cùng quan tâm”, trao đổi về tương trợ dân sự quốc tế với Vụ Pháp luật quốc tế thuộc bộ Tư pháp Việt Nam, đồng thời ký kết Chương trình hợp tác giai đoạn 2026–2027 giữa bộ Tư Pháp của hai nước.
    Tham gia phái đoàn Pháp đến thăm Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh còn có nhiều chuyên gia pháp lý (công chứng viên, luật sư, thẩm phán và chấp hành viên), trong đó có luật sư Thị Mỹ Hạnh Ngô Folliot, chủ tịch Hội Hợp tác Pháp lý Châu Âu-Việt Nam ( ACJEV ) và cũng là chủ tịch Ủy ban Việt Nam của Luật sư đoàn Paris, một ủy ban được thành lập vào năm 2013. 
    Trả lời RFI Việt ngữ tại Paris ngày 12/12/2025, luật sư Thị Mỹ Hạnh Ngô Folliot cho biết:
    “Tôi tham gia phái đoàn Pháp từ ngày 24 đến 21/11 tham dự Tuần lễ Pháp luật và Tư pháp Pháp-Việt. Đây là lần đầu tiên sự kiện được tổ chức và chúng tôi đã tham dự nhiều hội thảo, gặp gỡ Tòa án Nhân dân Tối cao và bộ trưởng Tư Pháp, cũng như dự lễ ký kết chương trình hành động hai năm 2026-2027 với sự hiện diện của thứ trưởng bộ Tư Pháp. 
    Phái đoàn Pháp do bộ Tư Pháp dẫn đầu, bao gồm bà Valérie Delnaud, tổng vụ trưởng Vụ Các vấn đề dân sự và ấn tín và một số quan chức khác của bộ Tư Pháp, cùng với hai luật sư từ Hội đồng Luật sư Quốc gia (mà tôi là một trong những thành viên), hai công chứng viên từ Hội đồng Công chứng cấp cao, các chấp hành viên và đại diện từ Quỹ Luật Châu lục. 
    Hợp tác pháp lý Pháp-Việt là lâu đời nhất, bắt đầu từ những năm 1990, khi tổng thống François Mitterrand thăm Việt Nam và Đại sứ Blanche Maison đang tại nhiệm. Vào thời điểm đó, Nhà Pháp luật Việt-Pháp được thành lập. Trung tâm này đã đóng cửa vào năm 2012 và năm 2013, Luật sư đoàn Paris đã lập cơ sở quốc tế đầu tiên tại Thành phố Hồ Chí Minh, thu hút một lượng lớn các chuyên gia pháp lý từ các trường đại học cũng như các luật sư Pháp, Việt Nam và châu Âu.
    Kể từ đó, theo yêu cầu của các đối  tác Việt Nam, chúng tôi đã tham gia vào sự hợp tác này. Đầu tiên, chúng tôi thành lập một hiệp hội gọi là Hội Hợp tác Pháp lý Châu Âu-Việt Nam, hầu như năm nào cũng đến Việt Nam để đóng góp vào sự hợp tác này theo cách riêng và ở cấp độ của mình, thông qua các hội thảo về nhiều chủ đề khác nhau, theo yêu cầu của các đối tác Việt Nam. 
    Nhóm của chúng tôi luôn sẵn sàng và trong nhóm, chúng tôi bổ sung cho nhau rất tốt, và có một sự liên tục nhất định trong sự hợp tác này, một sự hợp tác cũng gắn liền với cộng đồng Pháp ngữ. Chúng tôi hoàn toàn muốn các hội thảo của mình được tổ chức bằng tiếng Pháp và điều này là theo yêu cầu của các học giả và hiệp hội luật sư Việt Nam.” 
    Trong Tuần lễ Pháp - Việt Nam về Pháp luật và Tư pháp, một cuộc gặp gỡ đã diễn ra tại trụ sở Liên đoàn Luật sư Việt Nam giữa các luật sư của phái đoàn Pháp với Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam, các phó chủ tịch và các thành viên Ban Quan hệ Quốc tế của Liên đoàn. Cuộc gặp này là trong khuôn khổ các trao đổi giữa Liên đoàn Luật sư Việt Nam và Hội đồng Quốc gia các Luật sư đoàn Pháp.
    Tuần lễ Pháp luật và Tư pháp được tổ chức trong tháng 11 vừa qua đã là dịp thúc đẩy và định hình các trao đổi mới trong lĩnh vực đại học, đặc biệt xoay quanh đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, những chủ đề then chốt trong tiến trình hiện đại hóa hệ thống pháp luật của hai nước.
    Theo bộ Tư Pháp Việt Nam, trong những năm gần đây, phía Pháp đã tiếp tục hỗ trợ bộ này trong quá trình xây dựng và hoàn thiện thể chế, trong đó có các đạo luật quan trọng như Bộ luật Dân sự 2015, Luật Hôn nhân và Gia đình, Nghị định Hòa giải thương mại…, đồng thời tăng cường hợp tác giữa các nghề luật của hai nước như công chứng viên, thừa phát lại, đấu giá viên…
    Ngoài các phiên họp chính thức, đây đã là dịp để các chuyên gia Việt Nam và Pháp tham gia ba buổi hội thảo về những thách thức pháp lý phát sinh từ quá trình đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, theo lời luật sư Thị Mỹ Hạnh Ngô Folliot:
    “Pháp luôn được tham vấn mỗi khi Việt Nam thực hiện một dự án cải cách. Pháp được xem là mô hình cho Việt Nam. Năm nay, bộ Tư Pháp của Pháp, trong khuôn khổ Tuần lễ Pháp luật, đã nêu bật những thách thức ở cấp độ châu Âu do việc quản lý trí tuệ nhân tạo và bảo vệ dữ liệu cá nhân đặt ra. Mục tiêu là dung hòa những đổi mới công nghệ với việc bảo vệ các quyền cơ bản và bảo vệ tính độc lập của tư pháp, vốn là nguyên tắc thiết yếu của nhà nước pháp quyền.
    Do bộ Tư Pháp của Pháp và bộ Tư Pháp của Việt Nam phối hợp tổ chức, với sự hỗ trợ của Đại sứ quán Pháp tại Hà Nội, chương trình của Tuần lễ Pháp luật rất dày đặc, bao gồm chuyến thăm và cuộc gặp với một trong các phó chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao. Tiếp theo, ngày hôm sau, chúng tôi có một hội thảo kéo dài cả ngày với Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội. Hội thảo này tập trung vào đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, với các bài thuyết trình của nhiều học giả đến từ Đại học Luật Hà Nội và Đại học Huế, cũng như các giáo sư đến từ Pháp. Dĩ nhiên đã có bài thuyết trình của tổng vụ trưởng Vụ Các vấn đề dân sự và ấn tín của Pháp, cũng như của các công chứng viên và chấp hành viên. 
    Chủ đề chính là trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, và làm thế nào để kết hợp những đổi mới công nghệ này với việc bảo vệ các quyền cơ bản, duy trì tính độc lập của tư pháp, và làm thế nào để dung hòa tất cả những điều này. Việc xây dựng một môi trường tin cậy là rất cần thiết để đảm bảo AI hoạt động hiệu quả. Chúng tôi đang làm việc cho tương lai. AI không phải là mới, nhưng đúng là chúng ta vẫn chưa hoàn toàn kiểm soát được công nghệ. Chúng ta cần tập hợp các nguồn lực. Bộ Tư Pháp của  Pháp giới thiệu các mô hình châu Âu và trao đổi ý tưởng với các đối tác Việt Nam, những người cũng đã tiến rất xa trong lĩnh vực này. Vì vậy, tôi nghĩ tương lai hoàn toàn khả thi đối với việc sử dụng  trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp.”
    Hội thảo chuyên đề đầu tiên, được tổ chức vào ngày 25/11/2025 tại Trường Đại học Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, là về chủ đề “Thể chế pháp lý và đổi mới sáng tạo”, tập trung vào việc điều chỉnh pháp luật tại Pháp, Việt Nam và trên thế giới trong bối cảnh phát triển xã hội, khoa học và công nghệ.
    Hội thảo thứ hai, với chủ đề « Thể chế pháp lý và Trí tuệ Nhân tạo », được tổ chức vào ngày 27/11 tại Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, đặt ra những tranh luận thiết yếu về các vấn đề pháp lý xoay quanh trí tuệ nhân tạo và các quy định liên quan.
    Trong khuôn khổ quan hệ đối tác giữa Trường Thẩm phán Quốc gia (Pháp) và Học viện Tư pháp (Việt Nam), một hội thảo kết hợp trực tuyến và trực tiếp về « Sử dụng trí tuệ nhân tạo của thẩm phán » đã được tổ chức để phân tích sự đóng góp của AI vào việc quản lý tư pháp tại Pháp và Việt Nam.
    Theo luật sư Thị Mỹ Hạnh Ngô Folliot, trong khi đó Hội Hợp tác Hợp tác Pháp lý Châu Âu-Việt Nam vẫn tiếp tục đáp ứng các nhu cầu đào tạo của phía Việt Nam:
    “Nhu cầu đào tạo ngày càng tăng, đặc biệt là kể từ khi Việt Nam khởi xướng việc thành lập hai trung tâm tài chính quốc tế trong năm nay tại Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh, và chúng tôi có yêu cầu cấp thiết là quay lại hàng năm để cung cấp các khóa đào tạo bằng tiếng Pháp cho các học giả và luật sư nhằm tiếp tục tăng cường hợp tác và cùng nhau tiến lên. Hiệp hội của tôi và cá nhân tôi đã tham gia vào hợp tác pháp lý Pháp-Việt này trong suốt 25 năm qua. Tôi đã mang theo cả một đội ngũ, hầu như năm nào cũng sẵn sàng đến Việt Nam theo yêu cầu của các đối tác Việt Nam. Đó là một đội ngũ bổ sung, mang đến cách tiếp cận đa ngành, và mỗi thành viên đều đóng góp đáng kể vào hợp tác pháp lý Pháp-Việt. 
    Hầu hết các tổ chức và trường đại học đều do những người nói tiếng Pháp, từng học ở Pháp điều hành. Vì vậy, việc đào tạo tiếng Pháp không phải là vấn đề. Họ hoàn toàn có khả năng, và ngay cả khi đôi khi một số người trẻ không được đào tạo tiếng Pháp cũng nói tiếng Anh và giao tiếp rất tốt với chúng tôi. Chúng tôi đã bắt đầu soạn thảo dự án với các trường đại học và hiệp hội luật sư.
    Tại hội nghị ngày 25/11/2025, tôi đã gặp lại các sinh viên đến từ các trường đại học Toulouse-Capitole, Lyon 3 và Bordeaux. Theo yêu cầu của các giáo sư, tôi đã hướng dẫn các em trong một ngày học vào tháng Tư năm ngoái trước khi các em sang Việt Nam. Hiện các sinh viên này đang theo học năm thứ hai chương trình Thạc sĩ Hợp tác Kinh tế và Luật Thương mại Quốc tế tại Hà Nội.
    Ngoài ra, năm 2026 sẽ diễn ra Hội nghị thượng đỉnh Cộng đồng Pháp ngữ lần thứ 20 tại Siem Reap, Cam Bốt , ngay sát bên. Chúng tôi sẽ cố gắng có mặt ở đó, vì một trong những mục tiêu của hiệp hội chúng tôi là Cộng đồng Pháp ngữ. Chúng tôi sẽ cố gắng kết nối hai bên và phát triển hơn nữa tiếng Pháp tại Việt Nam.”
    Theo báo chí Việt Nam, bộ Tư Pháp Pháp, Quỹ Luật lục địa cũng như Trường Đại học Paris-Assas đang phối hợp với bộ Tư Pháp Việt Nam và Trường Đại học Luật Hà Nội để thúc đẩy việc thành lập Trung tâm Pháp luật Pháp tại đại học này. Phía Việt Nam cho biết Trường Đại học Luật Hà Nội đã chuẩn bị sẵn sàng cơ sở vật chất cho Trung tâm và mong muốn phía Pháp hỗ trợ chuyên gia và giảng viên tới giảng dạy tại Trung tâm Pháp luật Pháp. Tuy nhiên phía Pháp hiện chưa đáp ứng các yêu cầu này.
  • Liên Âu hy vọng Việt Nam thực hiện triệt để cải cách hành chính để gia tăng hấp dẫn đối với đầu tư châu Âu

    02/02/2026
    Liên Hiệp Châu Âu hiện là thị trường xuất khẩu lớn thứ ba và là thị trường nhập khẩu lớn thứ năm của Việt Nam. Năm 2026 được coi là “thời điểm vàng” để doanh nghiệp Việt Nam khai thác tối đa lợi thế từ Hiệp định Thương mại Tự do (EVFTA) với Liên Âu vì lộ trình cắt giảm thuế quan giữa hai bên đã tiến gần đến 100%. EU cũng không ngừng hỗ trợ Việt Nam trong chuyển đổi xanh để đáp ứng tiêu chí sản phẩm của khối 27 nước.
    Kể từ khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực ngày 01/08/2020, giao thương giữa Việt Nam và Liên Hiệp Châu Âu không ngừng gia tăng. Năm 2025, tổng kim ngạch thương mại song phương đạt 73,8 tỷ đô la, trong đó Việt Nam xuất siêu khoảng 30 tỷ đô la. Theo báo Đầu tư ngày 07/01, Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất của Liên Âu trong khối ASEAN, đứng trong top 10 nhà cung ứng hàng hóa cho thị trường EU (Eurostat 2024).
    Doanh nghiệp châu Âu tin vào Việt Nam
    Liên Âu hiện là nhà đầu tư lớn thứ 6 của Việt Nam. Việt Nam trở thành điểm hấp dẫn trong mắt các nhà đầu tư Liên Âu. Trả lời RFI Tiếng Việt ngày 20/01/2026, đại sứ Liên Hiệp Châu Âu tại Việt Nam Julien Guerrier nhận định :
    “Tôi thậm chí có thể nói rằng trong một hoặc hai năm gần đây, chúng ta đã thấy sự gia tăng đáng kể về niềm tin của các nhà đầu tư châu Âu vào Việt Nam. Điều này được Phòng Thương mại Châu Âu - EuroCham tại Việt Nam đo lường hàng tháng. Mức độ tin tưởng vào đất nước gia tăng nhanh chóng. Năm 2025, tăng trưởng của Việt Nam đạt 8% và Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai chữ số trong những năm tới.
    Vì vậy, đây là một quốc gia có nhiều cơ hội kinh tế, nơi có một mong muốn thực sự, một tầm nhìn để hiện đại hóa nền kinh tế Việt Nam, và là nơi đang thu hút ngày càng nhiều công ty châu Âu. Hiện tại có 1.500 công ty thành viên của EuroCham đang đầu tư mạnh vào Việt Nam.
    Đọc thêmHiệp định Tự do Thương mại EU-Việt Nam : Pháp-Việt được lợi gì?
    Cụ thể, theo Chỉ số Niềm tin Kinh doanh (BCI) quý IV năm 2025 được EuroCham thực hiện, niềm tin đã tăng 13,5 điểm so với quý trước và lên đến 80 điểm - mức cao nhất trong 7 năm gần đây. Chủ tịch EuroCham Bruno Jaspaert đánh giá trong bài nhận định đăng trên The Investor ngày 19/01 : “Đây không chỉ là một con số ấn tượng, nó còn báo hiệu một sự chuyển biến rõ ràng trong tâm lý kinh doanh châu Âu, từ sự phục hồi thận trọng sang niềm tin chiến lược… Từ 2021 đến 2025, các nhà đầu tư châu Âu đã rót hơn 28 tỷ đô la vào Việt Nam. Điều này cho thấy niềm tin dài hạn của họ và tiềm năng của đất nước”.
    Trước đó, tại Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Thương mại Việt Nam - EU 2025, diễn ra ngày 17/10/2025, phó chủ tịch EuroCham Jean-Jacques Bouflet nhận định :
    76% lãnh đạo doanh nghiệp châu Âu hiện nay nhìn nhận Việt Nam là điểm đến đầu tư hấp dẫn, và 80% dự báo điều kiện sẽ còn thuận lợi hơn trong 5 năm tới.
    Khả năng phục hồi và tư duy cải cách : Hai yếu tố củng cố niềm tin
    Niềm tin này được căn cứ vào hai yếu tố chủ đạo : Khả năng phục hồi đáng kể ; tư duy cải cách mạnh mẽ.
    Khả năng phục hồi

    Về yếu tố thứ nhất, Việt Nam được giới chuyên gia đánh giá là đã thể hiện được sự linh hoạt, khéo léo hóa giải các biện pháp thuế đối ứng (ban đầu lên đến 46%) của tổng thống Mỹ Donald Trump. Giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, nhận định với RFI Tiếng Việt :
    “Vấn đề thuế quan (với Mỹ) đã được Việt Nam đàm phán khá khéo léo, và cuối cùng họ không bị thiệt hại quá nhiều. Còn về quan hệ song phương với Trung Quốc, quan hệ đối tác kinh tế và thương mại đã cởi mở hơn và nhiều hơn. Nhìn từ góc độ này, bối cảnh rất đặc biệt cho Việt Nam, nhưng “ngoại giao cây tre” đã chứng tỏ hiệu quả đáng kể, bởi vì Việt Nam đã phần nào vượt qua các cuộc xung đột đánh dấu năm 2025 mà không bị thiệt hại đáng kể”.
    Năm 2025, Việt Nam gia nhập nhóm 25 nền kinh tế có trị giá xuất nhập khẩu lớn nhất thế giới, với tổng trị giá xuất nhập khẩu đạt 920 tỷ đô la. Theo Cục Hải quan, Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất (152 tỷ đô la) của Việt Nam và Trung Quốc tiếp tục là thị trường cung cấp hàng hóa lớn nhất (183 tỷ đô la) cho Việt Nam.
    Tư duy cải cách

    Tư duy cải cách mạnh mẽ là yếu tố thứ hai tác động đến niềm tin của doanh nghiệp châu Âu vào Việt Nam. Ngày 16/01, hãng tin Pháp AFP nhận định “từ khi lên nắm giữ vị trí cao nhất cách đây chỉ 17 tháng, ông Tô Lâm đã tiến hành chiến dịch chống tham nhũng quyết liệt, giảm bớt thủ tục hành chính và thúc đẩy đầu tư vào các công trình cơ sở hạ tầng” : từ 30 bộ và cơ quan chính phủ giảm xuống còn 22, giảm gần 150.000 công chức, khởi động nhiều dự án đầy tham vọng về đường sắt và năng lượng.
    Đối với nhiều nhà ngoại giao và nhà phân tích, được AFP trích dẫn ngày 16/01, “chính trị gia 68 tuổi là một chiến lược gia khôn khéo, có khả năng chấp nhận rủi ro, và những canh bạc táo bạo nhất của ông đã mang lại thành công”. Giáo sư danh dự Carl Thayer, Đại học New South Wales (Úc), “không gọi ông Tô Lâm là Trump của Việt Nam, nhưng đó là một nhà lãnh đạo tìm cách củng cố quyền lực để đưa ra những quyết định nhanh chóng và dứt khoát”.
    Đọc thêmEuroCham : Tinh giản hành chính nhưng cần nhanh, hiệu quả để Việt Nam tăng hấp lực
    Tân tổng bí thư “Tô Lâm sẽ vạch ra hướng đi cho các cải cách đã ấp ủ trong năm qua”, theo nhận định với AP của Nguyễn Khắc Giang, nghiên cứu viên thỉnh giảng tại Chương trình Nghiên cứu Việt Nam, Viện ISEAS-Yusof Ishak (Singapore) : “Tôi cho rằng các cải cách sẽ tiếp tục được đẩy nhanh sau Đại hội Đảng. Nhưng rõ ràng, sẽ có rất nhiều rào cản đối với các cải cách của ông ấy, đặc biệt là nếu nhìn vào cách thức mà các phe phái bảo thủ, nhất là quân đội, sẽ đặt ra nhất nhiều hạn chế, vì lo ngại rằng các cải cách sẽ đi quá xa, khiến Việt Nam có thể đi chệch khỏi con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng muốn đề ra cho đất nước”.
    EU sẵn sàng đồng hành trong quá trình chuyển đổi
    Vậy mô hình tăng trưởng mới gồm những điểm gì ? Đó là tái cấu trúc nền kinh tế, đặt mục tiêu tăng trưởng ít nhất là 10% hàng năm cho đến 2030, đưa thu nhập bình quân đầu người lên khoảng 8.500 USD vào năm 2030 ; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt khoảng 28% GDP; tỷ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP.
    Để thực hiện chiến lược này, chính phủ coi trọng ba nhóm giải pháp chính : Hoàn thiện thể chế để phát triển, xóa bỏ những điểm nghẽn, rào cản, giải phóng mọi nguồn lực (…) ; Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao, trọng dụng nhân tài (…) ; Phát triển xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; nhất là hạ tầng giao thông chiến lược (đường sắt, cảng biển), hạ tầng công nghệ, hạ tầng năng lượng. Những hạ tầng này hết sức quan trọng để bảo đảm tăng trưởng 2 con số trở lên trong thời gian tới và mục tiêu đến năm 2045 trở thành một nước phát triển, có thu nhập cao.
    Đây cũng là ba trụ cột cốt lõi được chủ tịch EuroCham Bruno Jaspaert nhấn mạnh khi nói về chiến lược phát triển của Việt Nam để đạt được tham vọng này. Cụ thể, Liên Hiệp Châu Âu, cũng như các nhà đầu tư châu Âu, trông đợi gì từ Đại hội Đảng XIV ? Đại sứ EU Julien Guerrier nhận định với RFI Tiếng Việt :
    “Đại hội cần hướng tới việc xác định và phê duyệt các chính sách đã được hoạch định cho 5 năm tới. Việt Nam đang thực hiện quá trình đơn giản hóa hành chính ở quy mô lớn, bao gồm việc sáp nhập các tỉnh, bộ và đơn giản hóa các thủ tục, tất cả nhằm mục đích hiện đại hóa đất nước và thu hút đầu tư.
    Tôi nghĩ rằng điều mà chúng tôi kỳ vọng, đó là sự thành công của tất cả các cải cách này, để môi trường kinh doanh trở nên hấp dẫn hơn đối với các doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam và tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư vào các lĩnh vực như năng lượng tái tạo, công nghiệp xanh và chuyển đổi số.
    Đây là những ngành công nghiệp của tương lai và cũng là những lĩnh vực mà Liên Hiệp Châu Âu có lợi thế cạnh tranh và có thể cung cấp cho Việt Nam những giải pháp công nghệ cao, an toàn, bảo đảm tính tự chủ chiến lược và độc lập kinh tế của Việt Nam đối với việc phát triển trong tương lai về những lĩnh vực trọng điểm này”.
    Đọc thêmEU-Việt Nam vượt bão thuế quan Mỹ qua Hiệp định Thương mại Tự do EVFTA ?
    Một khung pháp lý minh bạch, ổn định và nhất quán chính là nền tảng để xây dựng một nền kinh tế có thể tiến xa và tăng trưởng bền vững, để thuyết phục được các nhà đầu tư tự tin đặt những “viên gạch” dài hạn. Điểm này đã trở thành điều kiện tiên quyết trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chất lượng cao. Chủ tịch EuroCham cho rằng “nếu làm tốt, Việt Nam hoàn toàn có thể thu hút thêm nhiều dòng vốn châu Âu vào các lĩnh vực giá trị gia tăng cao như công nghệ, năng lượng tái tạo, sản xuất xanh và dịch vụ hiện đại”.
    Để hỗ trợ chuyển đối số, chuyển đổi xanh được chính phủ Việt Nam khẳng định “là hai yếu tố căn bản cấu thành một xu thế tất yếu, không thể đảo ngược”, Liên Hiệp Châu Âu và chính phủ Việt Nam đã ký Hiệp định tài trợ cho Chương trình Giáo dục nghề nghiệp Việt Nam (VETVET) với hơn 50 triệu euro. Được ký ngày 31/12/2025 - ngay trước khi khai mạc Đại hội Đảng XIV, Hiệp định có hiệu lực đến năm 2030, trùng với kế hoạch 5 năm 2026-2030. Đại sứ Julien Guerrier đánh giá Chương trình VETVET cũng sẽ giúp Việt Nam tăng sức hấp dẫn cũng như đáp ứng nhu cầu nhân lực của các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư châu Âu, vào Việt Nam.
  • Việt Nam: Những thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng đầy tham vọng của đảng Cộng Sản

    26/01/2026
    Đại hội đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ 14 đã kết thúc ngày 23/01/2026 sau khi Ban Chấp hành Trung ương "thống nhất tuyệt đối" bầu ông Tô Lâm tiếp tục giữ chức tổng bí thư. Ông Tô Lâm đã từng tuyên bố Đại hội Đảng lần này đánh dấu sự khởi đầu của một “kỷ nguyên mới”, với mục tiêu đưa Việt Nam trở thành “một quốc gia hiện đại có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và một quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045.” 
    Trong bài phát biểu khai mạc Đại hội hôm 20/01, tổng  bí thư Đảng cũng đã đề ra một mục tiêu đầy tham vọng : đạt mức tăng trưởng GDP hàng năm ít nhất 10% trong giai đoạn 2026-2030. Nhưng đó là những mục tiêu đầy thách thức đối với ban lãnh đạo mới của đảng Cộng Sản Việt Nam.
    Cải cách hành chính: Tác động tích cực và tiêu cực
    Nguyên là bộ trưởng Công An, ông Tô Lâm đã lên làm tổng bí thư sau khi ông Nguyễn Phú Trọng qua đời vào tháng 8/2024. Trong thời gian ngắn nắm quyền, ông đã đẩy nhanh các cải cách hành chính, cắt giảm số lượng bộ, ngành của chính phủ từ 30 xuống còn 22, giảm số lượng các đơn vị hành chính cấp tỉnh và thành phố từ 63 xuống chỉ còn 34.
    Trả lời RFI Việt ngữ ngày 21/01/206, nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Singapore, nhận định: 
    "Các cải cách này đã gây ra những tác động sâu rộng chưa từng có từ trước tới nay. Thứ nhất là về mặt tích cực, các biện pháp này giúp giảm bớt sự cồng kềnh của bộ máy hành chính, bộ máy Đảng và các cơ quan đoàn thể, qua đó giúp tăng hiệu quả quản lý nhà nước, cũng như tăng hiệu quả của công tác quản trị và xây dựng Đảng.
    Thứ hai, bộ máy được tinh gọn như vậy thì giúp nhà nước tiết kiệm được ngân sách để đầu tư vào các lĩnh vực phát triển, cũng như đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng, hay là đầu tư vào hệ thống phúc lợi cho người dân.
    Mặt tích cực thứ ba là việc tinh gọn guồng máy sẽ giúp tăng tính thích ứng trước những thay đổi nhanh chóng, tăng hiệu quả quản trị nhà nước và nâng cao năng lực của bộ máy chính trị và hành chính về lâu dài, qua đó giúp Việt Nam ngày càng ổn định, vững chắc hơn, cũng như có thể phát triển nhanh hơn trong thời gian tới.
    Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có những mặt trái hay những rủi ro. Ví dụ như trong thời gian qua cũng có những phản ánh, những lời phàn nàn về sự đứt gãy, hay gián đoạn trong công tác quản trị, hay trong việc cung cấp một số dịch vụ công, do tình trạng thiếu nhân lực khi bộ máy bị tinh gọn. Nhiều cán bộ ở lại thì chưa được trang bị những kiến thức mới để đảm nhiệm các nhiệm vụ mới, do tình trạng thiếu trang thiết bị máy móc, hay do hệ thống công nghệ thông tin chưa được điều chỉnh hay cập nhật kịp thời để tương thích với cơ cấu bộ máy chính quyền mới. Tình trạng này cũng có thể ảnh hưởng tới phát triển kinh tế, vì như tôi được biết, việc cấp phép hoặc xét duyệt các dự án, hay là thông qua các giấy phép cho một số doanh nghiệp cũng bị đinh trệ.
    Một mặt tiêu cực khác, đó là xuất hiện sự bất mãn trong một bộ phận cán bộ. Những cán bộ này được ở lại, nhưng do những vấn đề như tôi đã nói trên, họ bị quá tải công việc. Bộ máy tinh gọn nhưng công việc thì không những không giảm mà có thể tăng lên. Đặc biệt là những cán bộ ở các tỉnh thành bị sát nhập mà trung tâm hành chính lại đặt ở tỉnh khác,  họ phải di chuyển rất xa đến nơi làm việc, họ phải sống xa vợ con gia đình nhiều ngày trong tuần.
    Trong số những người mà tôi đã phỏng vấn trong những chuyến tôi về Việt Nam, rất nhiều ý kiến cho rằng chủ trương sát nhập tỉnh thành hay tinh gọn bộ máy là cần thiết, nhưng những cải cách này đã được tiến hành một cách quá vội vàng, chưa cân nhắc thấu đáo các hậu quả. Đáng lẽ nó có thể được tiến hành theo từng giai đoạn, theo một trình tự, để bộ máy điều chỉnh kịp thời, thích nghi dần, rồi sau đấy mới đi tới các bước tiếp theo."
    Trong bài viết đăng trên trang mạng East Asia Forum ngày 10/01/2026, nhà nghiên cứu Alexander L. Vuving nhắc lại, dưới sự lãnh đạo của ông Tô Lâm, Bộ Chính Trị đã thông qua 4 nghị quyết từ cuối năm 2024 đến giữa năm 2025, vạch ra chiến lược để đạt được các mục tiêu đề ra. Các nghị quyết bao gồm đổi mới khoa học và công nghệ, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. 
    Tuy nhiên, theo ông Alexander L. Vuving, “cách thức thực hiện các chính sách cụ thể lại gây ra nhiều tranh cãi. Việc tái cấu trúc lãnh thổ quy mô lớn đã được thực hiện mà không tôn trọng cấu trúc theo chiều ngang và bản sắc địa phương. Các quyết định quan trọng về phát triển kinh tế và cơ sở hạ tầng cũng được đưa ra mà không có sự tham vấn công chúng một cách thực chất, như quyết định xây dựng đường sắt cao tốc dọc bờ biển, xây dựng hai nhà máy điện hạt nhân và đặt mục tiêu tỷ lệ tăng trưởng kinh tế hàng năm 10% trở lên trong những thập kỷ tới.” 
    Phát triển kinh tế tư nhân: Chỉ có lợi cho các tập đoàn lớn
    Ông Tô Lâm xem khu vực tư nhân là một “động lực quan trọng nhất” của nền kinh tế Việt Nam, cho dù khu vực nhà nước vẫn giữ “vai trò chủ đạo”. Nhưng theo nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp, chính sách thúc đẩy kinh tế tư nhân cho tới nay chủ yếu có lợi cho các tập đoàn lớn:
    "Từ khi ông Tô Lâm lên nắm quyền, chúng ta thấy là một số doanh nghiệp tư nhân Việt Nam đã phát triển rất nhanh, đã mở rộng rất nhanh, đặc biệt là một số các doanh nghiệp mà tôi cho rằng có quan hệ tốt với chính quyền, cụ thể là với bộ Công An, hay với những cơ quan liên quan tới an ninh, những tập đoàn như là Vingroup, Sun Group, Masterise Group hay TNT v.v....
    Trong khoảng hơn một năm qua, họ phát triển rất nhanh về số lượng dự án, rồi đầu tư vào các lĩnh vực mới. Điều này cho thấy rằng những doanh nghiệp đó đã ít nhiều được hưởng lợi từ chính sách tạo điều kiện cho lĩnh vực kinh tế tư nhân phát triển. Tuy nhiên, các chính sách này hầu như chỉ mang lại lợi ích cho một số tập đoàn lớn, mà chưa tạo ra được những lợi ích đồng đều, lan tỏa ra các doanh nghiệp khác.
    Những doanh nghiệp vừa và nhỏ thì chưa có được những  sự hỗ trợ cần thiết. Một số thành phần như kinh tế cá thể, kinh tế gia đình thì đang gặp rất nhiều khó khăn và thách thức. Họ là những bộ phận rất quan trọng tạo ra việc làm cho người dân, nhưng họ cũng đang tuân thủ các quy định về thuế, về hóa đơn, chứng từ..., khiến rất nhiều doanh nghiệp đóng cửa.
    Chính phủ Việt Nam phải cải cách pháp lý và chính sách để làm sao tạo ra được môi trường kinh doanh minh bạch và công bằng, không chỉ giúp các doanh nghiệp tư nhân lớn phát triển, mà có thể thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển theo. Thứ hai là cũng phải cải thiện cơ sở hạ tầng nhằm hỗ trợ sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân. Thứ ba là tạo thuận lợi cho việc tiếp cận tài chính và tín dụng, đặc biệt là cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. 
    Thứ tư là thời gian qua Việt Nam đã thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ. Trong thời gian tới, khía cạnh này cũng cần được tiếp tục thúc đẩy trong khu vực kinh tế tư nhân, không chỉ ở các doanh nghiệp lớn, mà còn ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ, để họ có thể nâng cao hiệu quả hoạt động và tạo đà để họ có thể phát triển ngày càng lớn mạnh, trở thành các doanh nghiệp lớn và các doanh nghiệp quốc tế.
    Trong bài viết đăng trên mạng ngày 19/01/2026, nhật báo Mỹ The New York Times ghi nhận ông Tô Lâm được xem là một nhân vật “có thể tạo ra những điều kiện thuận lợi hơn cho nhiều loại hình doanh nghiệp tư nhân”. Nhưng các nhà phân tích nhấn mạnh “đảng vẫn ưu tiên sự kiểm soát tập trung. Mặc dù có năng suất thấp, các công ty nhà nước vẫn được hưởng ưu đãi đặc biệt.” Đảng có kế hoạch xây dựng một mô hình mới cho tăng trưởng kinh tế, giảm bớt sự phụ thuộc vào lao động tay nghề thấp và dựa nhiều hơn vào khoa học và công nghệ. Theo The New York Times, “thách thức chính của Việt Nam là ở việc thực hiện các chính sách nhằm xây dựng một môi trường cởi mở hơn, hiệu quả hơn và cạnh tranh hơn. Về nội bộ, một mối nguy hiểm là sự tồn tại của một nhóm nhỏ các doanh nghiệp được nhà nước ưu ái với năng suất thấp.”
    Theo mô hình chaebol: Cần thiết, nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro
    Bên cạnh việc nhìn nhận kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất, ông Tô Lâm còn có tham vọng phát triển những đại tập đoàn tư nhân theo kiểu các chaebol của Hàn Quốc. Nghị quyết 68 nêu rõ tham vọng của Việt Nam thúc đẩy sự phát triển 20 doanh nghiệp hàng đầu quốc gia vào năm 2030. Nhưng nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp đưa ra lời cảnh báo:
    "Điều quan trọng là chúng ta cần học hỏi các điểm tốt, nhưng phải tránh các mặt bất lợi, các mặt xấu. Điểm tốt từ mô hình chaeebol Việt Nam có thể học hỏi đó là tạo ra những cơ chế giúp các doanh nghiệp tư nhân có thể tập trung các nguồn lực và qua đó trở thành các tập đoàn lớn, có  sức cạnh tranh cao, không chỉ ở phạm vi trong nước, mà phạm vi quốc tế. Qua đó có thể giúp Việt Nam mở rộng tiềm lực kinh tế và ảnh hưởng của mình lên toàn cầu.
    Tuy nhiên, khi các doanh nghiệp này phát triển như vậy thì nó cũng có những mặt trái. Ví dụ như ở Hàn Quốc, các chaebol nổi tiếng là có sự tham gia vào những mạng lưới chính trị và qua các mạng lưới này thì họ giành được các nguồn lực để phát triển. Tuy nhiên, đi kèm theo là tình trạng hối lộ, tham nhũng, hay các mối quan hệ thân hữu, qua đấy nó làm xói mòn niềm tin của công chúng vào chính quyền.
    Khi các doanh nghiệp này tận dụng những mối quan hệ với chính phủ để phát triển như vậy thì nó cũng bóp nghẹt sự cạnh tranh và khả năng sáng tạo, đặc biệt là  các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Khi mà các chaebol của Hàn Quốc phát triển thì họ cũng phát triển một cách liều lĩnh, ví dụ như vay nợ quá mức để tham gia vào nhiều lĩnh vực phát triển đa ngành. Các chaebol Hàn Quốc đã là một phần nguyên nhân quan trọng của khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997.
    Một số mặt trái như vậy tôi thấy cũng đang xuất hiện ở một số tập đoàn tư nhân trong nước, cụ thể là vay nợ quá mức để theo đuổi các dự án rủi ro, không có hiệu quả cao về mặt kinh tế, không có tính bền vững về mặt tài chính. Tình trạng bóp nghẹt cạnh tranh ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng đang trở nên càng ngày càng phổ biến."
    Mục tiêu 10%: Tăng tốc quá nhanh?
    Mặt khác, đạt mức tăng trưởng từ 10% trở lên theo mục tiêu mà ông Tô Lâm đề ra, trong khi phải giảm sự phụ thuộc vào đầu tư nước ngoài và đối phó với các rào cản thương mại sẽ là thử thách đối với Việt Nam trong những năm tới. 
    Tuần báo của Anh The Economist trong bài viết đăng ngày 08/01/2026, ghi nhận “nền kinh tế Việt Nam, nhờ xuất khẩu tăng mạnh, đã đạt mức tăng trưởng 8% trong năm 2025 – nhanh nhưng vẫn thấp hơn mục tiêu 8,3-8,5% của năm. Mặc dù mục tiêu 10% của năm nay có vẻ khó đạt được hơn, nhưng vẫn có lý do để lạc quan: Những cải cách lớn nhất của ông Lâm vẫn chưa phát huy hết tác dụng, trong đó có Nghị quyết 68, một nỗ lực nhằm thúc đẩy khu vực tư nhân bằng các biện pháp ưu đãi thuế và giảm bớt thủ tục hành chính. Các cơ quan quản lý đã được yêu cầu chấp nhận rủi ro cao hơn khi phê duyệt các dự án.”
    Vấn đề là theo The Economist, “hiện vẫn chưa rõ các tập đoàn lớn của Việt Nam sẽ chịu trách nhiệm như thế nào nếu họ không hoàn thành các dự án quan trọng. Một số tập đoàn ngại rủi ro nếu không có sự hỗ trợ của nhà nước. Ví dụ, vào ngày 25/12 vừa qua, Vingroup đã rút khỏi dự án trị giá 67 tỷ đôla xây dựng tuyến đường sắt xuyên Việt Nam. Tập đoàn này đã yêu cầu 80% dự án được tài trợ bằng khoản vay không lãi suất từ ​​nhà nước, nhưng nhà nước đã từ chối. Các tập đoàn khác có thể sẽ thay Vingroup tham gia dự án, nhưng tình trạng tương tự vẫn sẽ tiếp diễn. Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, dù gây ấn tượng mạnh, vẫn dễ bị ảnh hưởng bởi thái độ tùy hứng của một vài doanh nghiệp.”
    Về phần mình, nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp e ngại là tăng tốc quá nhanh sẽ gây phản ứng ngược cho nền kinh tế Việt Nam: 
    "Chúng ta thấy là năm 2025 vừa qua Việt Nam cũng đã nỗ lực rất nhiều, nhưng chỉ đạt được mức tăng trưởng 8%. Thậm chí có nhiều người đặt câu hỏi liệu có phải là thực sự 8%, hay chỉ là một con số được "chế biến" để có thể đáp ứng được các mục tiêu chính trị của ban lãnh đạo.
    Tăng trưởng ít nhất 10% trong thời gian tới là một mục tiêu rất là thách thức. Việt Nam một hai năm trước chỉ đạt tăng trưởng 6 hay 7%. Bây giờ trong vòng một hai năm Việt Nam muốn tăng trưởng lên 10% thì tôi nghĩ rằng người ta đã đốt cháy giai đoạn ở một mức độ nào đấy. Muốn tăng tốc thì ta phải tăng tốc từ từ. Tôi sợ rằng trong thời gian tới, nếu Việt Nam quá nôn nóng để tăng trưởng và sử dụng các biện pháp không bền vững, không hiệu quả về lâu dài, thì có thể gặp sự cố, có thể là không phải ngay trong trước mắt 1, 2 năm tới, mà có thể là 3, 4 năm tới.
    Khi nền kinh tế phát triển quá nóng và dựa trên việc bơm tiền vào nền kinh tế, mà không dựa vào các biện pháp mang tính bền vững như phát triển khoa học công nghệ  hay đổi mới sáng tạo, nền kinh tế Việt Nam sẽ có thể gặp các vấn đề nghiêm trọng trong vòng 4 đến 5 năm tới.
    Việt Nam hiện vẫn phụ thuộc rất nhiều vào đầu tư nước ngoài, nhưng trong bối cảnh môi trường địa chính trị toàn cầu gặp rất nhiều biến động như vậy, vốn đầu tư nước ngoài Việt Nam có thể bị chựng lại, thậm chí có thể giảm trong thời gian tới.
    Việt Nam cũng phụ thuộc rất nhiều vào xuất khẩu, đặc biệt là thương mại với Mỹ. Năm ngoái chúng ta thấy là thuế đối ứng chỉ bắt đầu được áp dụng vào nửa cuối năm, còn nửa đầu năm thì thuế đối ứng này chưa có tác động nhiều. Năm nay chúng ta sẽ thấy bức tranh toàn cảnh hơn về tác động của thuế đối với kinh tế Việt Nam. Trong trường hợp thuế đối ứng này làm giảm xuất khẩu Việt Nam, thì rõ ràng mục tiêu tăng trưởng 10% của Việt Nam cũng sẽ bị ảnh hưởng.
    Thứ ba là tiêu dùng cá nhân ở Việt Nam vẫn còn rất hạn chế. Tiêu dùng chủ yếu vẫn tập trung ở một số bộ phận cư dân thu nhập cao ở thành thị. Còn rất nhiều gia đình đang thắt lưng buột bụng. Trong bối cảnh đấy, tiêu dùng khó có thể tăng trưởng mạnh để trở thành một động lực của nền kinh tế.
    Bên cạnh đấy, các động lực mới sẽ được ưu tiên phát triển trong cái thời gian tới, như khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, hay phát triển doanh nghiệp tư nhân thì vẫn cần thời gian không chỉ một hai năm mà có lẽ lâu hơn mới có thể phát huy tác dụng, để trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế Việt Nam trong tương lai.
    Trong bối cảnh đấy thì có lẽ các đòn bẩy quan trọng nhất mà chính phủ Việt Nam sẽ tiếp tục sử dụng đấy là chính sách tài khóa và tiền tệ mở rộng, đặc biệt là thông qua đầu tư công, đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng để kích thích kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, biện pháp này đi kèm với mặt trái, đó là có thể dẫn tới giá tài sản tăng nhanh, dẫn tới bong bóng thị trường bất động sản, có thể đe dọa ổn định tài chính của Việt Nam và tạo ra những mầm móng bất ổn cho kinh tế Việt Nam trong lâu dài."

About Tạp chí Việt Nam

Những vấn đề, sự kiện đang được dư luận quan tâm ở Việt Nam
Podcast website
Social
v8.7.2 | © 2007-2026 radio.de GmbH
Generated: 3/4/2026 - 1:39:01 PM